Thursday, September 16, 2010

20 Phương pháp quảng cáo website hiệu quả

Xúc tiến e-business ngoại tuyến.

1. Luôn đặt địa chỉ trang web trong các tiêu đề thư, danh thiếp và phần chữ ký ở cuối mỗi e-mail hay ở bất cứ nơi nào khác mà các nhà đầu tư tiềm năng có thể sẽ chú ý tới.

Quảng bá website

20 Phương pháp quảng cáo website hiệu quả

2. Nếu nhân viên của bạn mặc đồng phục, hãy in địa chỉ web trên bộ trang phục đó để bất kỳ khách hàng nào cũng đều nhìn thấy các quảng cáo trang web di động mọi nơi mọi lúc.

3. Đính kèm địa chỉ trang web vào tất cả các sản phẩm/dịch vụ khuyến mãi, quảng cáo mà bạn cung cấp cho khách hàng, ví dụ như tách cà phê, áo thun, dây đeo chìa khoá.... Các vật nhắc nhở hàng ngày như vậy sẽ là một cách hay để thu hút mọi người ghé thăm trang web của bạn.

4. Hãy đưa địa chỉ trang web vào tất cả các bản thông cáo báo chí mà bạn gửi cho giới truyền thông. Một khi đã có sẵn trong các thông tin PR, địa chỉ trang web của bạn sẽ có nhiều khả năng xuất hiện tại các bài viết của giới báo chí về công ty bạn.

5. Đừng quên đặt địa chỉ web vào trong quảng cáo Trang vàng. Đây là một nơi mà mọi người sẽ xem thường xuyên.

6. Công ty bạn có sở hữu một vài chiếc xe riêng? Hãy viết địa chỉ web lên thành xe con, hay xe tải chuyên dùng để giao nhận sản phẩm.

7. Bên cạnh việc in số điện thoại tổng đài miễn phí, hãy viết địa chỉ trang web của bạn vào cuối mỗi trang catalogue để các khách hàng có thể dễ dàng tiếp cận cửa hàng trực tuyến của bạn.

Xúc tiến e-bussiness trực tuyến.

8. Tận dụng và tối ưu hoá lợi thế từ các công cụ tìm kiếm trực tuyến nhằm thể hiện một cách tốt nhất hình ảnh trang web của bạn.

9. Nếu bạn muốn quảng bá mạnh mẽ hơn nữa, bạn có thể khai thác hoạt động tiếp thị trên các công cụ tìm kiếm trực tuyến, nơi bạn sẽ trả tiền để có một đoạn quảng cáo nhỏ xuất hiện khi ai đó tìm kiếm thông tin qua các từ khoá nhất định.

10. Tổ chức cuộc chơi để cho bất cứ ai đăng ký vào trang web của bạn hay đăng ký nhận các bản tin trong một thời gian nhất định sẽ có cơ hội giành được một vài món quà miễn phí.

11. Hàng tuần gửi đi các bản tin qua e-mail cho các thành viên đăng ký trang web của bạn, với nội dung là những lời khuyên và thông tin liên quan đến ngành nghề kinh doanh hay công ty của họ. Bạn hãy nhớ để cho các đường dẫn quay về trang web của bạn.

12. Cung cấp một số nội dung miễn phí cho các trang web khác. Đây là hành động có lợi cho cả hai bên: Các trang khác sẽ có được những bài viết miễn phí để quảng bá hình ảnh, trong khi bạn sẽ có thêm nhiều người ghé thăm trang web từ đường link mà bạn cung cấp, đồng thời tạo ra hình ảnh một chuyên gia thực thụ.

13. Gửi qua e-mail các bản tin xúc tiến kinh doanh được soạn thảo chuyên nghiệp và có trọng tâm hướng đến khách hàng. Hãy dành thời gian quan tâm tới nội dung và hình thức của e-mail: Bạn cần thông qua e-mail để đem lại một giá trị nào đó cho khách hàng, đồng thời không để nó trở thành thư rác.

14. Đề nghị các trang web khác (không phải các trang web cạnh tranh) đặt đường link của họ trong trang web của bạn và, ngược lại, bạn cũng đặt đường link của bạn trên web của họ.

15. Liên kết chặt chẽ với cộng đồng web để hàng trăm trang web có đường dẫn tới trang web của công ty bạn. Việc đó sẽ thu hút thêm người truy cập từ những trang web khác nhau có các nội dung liên quan.

16. Chủ động tham gia vào các diễn đàn, nhóm thảo luận trực tuyến, và luôn ghi địa chỉ web trong phần chữ ký ở bên dưới. (Mặc dù vậy, đừng gắng sức quảng bá để bán hàng. Đa số các nhóm thảo luận đều không tán thành những hành vi như vậy và sẽ nghĩ rằng bạn đang làm phiền cả nhóm).

17. Bất cứ khi nào một ai đó đặt hàng sản phẩm/dịch vụ của bạn trên trang web, hãy gửi kèm cho họ một bộ catalogue hoàn chỉnh để họ quay trở lại với trang web trong các lần tiếp theo.

18. Động viên những người ghé thăm trang web của bạn cho biết ý kiến về các kỹ thuật tiếp thị khác nhau, qua đó giúp bạn cải thiện hiệu quả hoạt động kinh doanh trực tuyến.

19. Bạn không biết chắc các khách hàng muốn gì? Hãy thử một vài cuộc thăm dò trực tuyến nhằm tìm hiểu về sở thích, nhu cầu và quan điểm đánh giá của họ về trang web của bạn.

20. Khi xây dựng các chương trình quảng cáo, bạn cần tìm hiểu thật kỹ về đối tượng mà quảng cáo nhắm đến, mục tiêu của chiến dịch quảng cáo, và cần sử dụng yếu tố sáng tạo nào để mọi người nhắp chuột vào đó, chứ không bỏ đi.

Tuesday, September 14, 2010

Marketing trực tuyễn là gì? Marketing trực tuyến gồm những hình thức nào mà có sức mạnh to lớn?

Marketing TT là việc ứng dụng công nghệ mạng máy tính, các phương tiện điện tử vào việc nghiên cứu thị trường, hỗ trợ phát triển sản phẩm, phát triển các chiến lược và chiến thuật marketing... nhằm mục đích cuối cùng là đưa sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đến người tiêu dùng một cách nhanh chóng và hiệu quả.

Maketing

Marketing trực tuyễn là gì?

Việc ứng dụng công nghệ để thực hiện các hoạt động marketing là một điểm khác biệt chính yếu giữa Marketing TT và Marketing truyền thống.

Vậy Marketing TT bao gồm những hình thức nào và được thực hiện ra sao?

Marketing TT hiện có những hình thức tiêu biểu sau: Tối ưu trang web trên công cụ tìm kiếm (Search Engine Optimization - SEO), Marketing thông qua công cụ tìm kiếm (Search Engine Marketing - SEM), Marketing qua E-mail (E-mail Marketing) và Marketing mạng cộng đồng (Viral Marketing).

Hiện nay tại Việt Nam, 82% số người sử dụng Internet khi truy cập Internet sẽ bắt đầu với việc tìm kiếm thông tin trên các công cụ tìm kiếm như (Google, Yahoo! Search...); và vì vậy các kênh công cụ tìm kiếm đã và đang là những kênh hiệu quả để tiếp cận khách hàng mục tiêu.

SEO - Search Engine Optimization (Tối Ưu Trang Web Trên Công Cụ Tìm Kiếm) là kỹ thuật cải tiến hệ thống thiết kế của trang web công ty để phù hợp nhất với những tiêu chí kỹ thuật do các công cụ tìm kiếm đề ra (tiêu đề trang, thẻ meta, sơ đồ trang web ...).

Kỹ thuật này sẽ giúp nâng cao thứ hạng của trang web công ty trên trang kết quả tìm kiếm. Và nếu thực hiện tốt kỹ thuật này, khi người tiêu dùng tìm thông tin bằng các từ khóa có liên quan đến sản phẩm, dịch vụ hoặc thương hiệu công ty, thông tin của công ty bạn sẽ xuất hiện ngay trang đầu tiên hay có thể ngay vị trí thứ nhất. Với vị trí này, theo thói quen của người sử dụng, trang web của bạn sẽ được click vào nhiều gấp 5 lần so với các trang khác.

Đây cũng được xem hình thức marketing có chi phí thấp nhất vì công ty không phải trả khoản chi phí quảng cáo nào cho các kênh này.

Kế đến là SEM - Search Engine Marketing (Marketing thông qua công cụ tìm kiếm). Theo kỹ thuật này, chuyên viên Marketing TT sẽ dùng các chương trình như Google Adwords để mua các từ khóa phù hợp với sản phẩm, dịch vụ, các chiến dịch quảng bá... Khi người tiêu dùng tìm thông tin bằng các từ khóa có liên quan, thông tin của công ty bạn sẽ xuất hiện tại khu vực dành riêng cho quảng cáo trên trang kết quả.

Đối với SEM, bạn phải thanh toán một khoản phí quảng cáo trên kênh công cụ tìm kiếm. Tuy nhiên, số tiền bỏ ra càng nhiều không có nghĩa mẫu quảng cáo của bạn đạt được vị trí tối ưu. Nếu bạn và đối thủ cạnh tranh cùng mua một từ khóa để quảng cáo trên cùng một công cụ tìm kiếm ở cùng một vị trí, tùy vào khả năng chuyên môn của chuyên viên SEM, mức giá CPC (cost per click) của bạn và các đối thủ sẽ rất khác nhau.

Một người chuyên viên Marketing TT sẽ dựa trên kinh nghiệm, khả năng phân tích và phán đoán để thiết kế một chương trình SEM - từ việc chọn lựa từ khóa, phân loại từ khóa thích hợp, đến viết mẫu quảng cáo - trong mức chi phí cho phép nhưng vẫn tối đa hóa kết quả đạt được.

Nếu so sánh về mặt chi phí, theo tôi, SEM giúp tiết kiệm đến 50 - 80% chi phí marketing trực tuyến mà hiệu quả mang lại cao hơn so với các hình thức quảng cáo khác như đặt banner trên các trang web.

Trên thực tế, SEO cần nhiều thời gian để thực hiện và duy trì, vì vậy để đạt được hiệu quả cao nhất trên các kênh công cụ tìm kiếm, các công ty thường thực hiện SEM song song với SEO.

Thứ ba là E-mail Marketing. Dựa trên một cơ sở dữ liệu khách hàng (database), chuyên viên MTT sẽ phân tích và phân nhóm các đối tượng khách hàng có cùng chung sở thích hoặc nhu cầu để phát triển nội dung email và gửi đến từng nhóm đối tượng phù hợp.

Kỹ thuật này không những giúp bạn có thể tiếp cận được khách hàng tiềm năng, mà còn có thể giữ liên lạc với những khách hàng hiện tại với nội dung được thiết kế nội mới lạ, hấp dẫn, nhằm cung cấp những thông tin mới về sản phẩm, dịch vụ hay chương trình khuyến mãi của công ty. Nếu so sánh với hình thức marketing trực tiếp truyền thống thông như gọi điện, gởi thư, e-mail marketing giúp bạn cắt giảm được khoản chi phí in ấn và tiếp cận khách hàng.

Có được một cơ sở dữ liệu (database) chất lượng, phù hợp với chương trình (ví dụ về độ tuổi, thu nhập, trình độ, v.v... ), đồng thời hiểu rõ thói quen sử dụng e-mail của từng khu vực địa lý cũng như dự kiến trước những sự cố kỹ thuật phát sinh sẽ mang đến cho bạn chiến dịch e-mail marketing thành công.

Cuối cùng là Viral Marketing. Đây là hình thức tạo ra các hoạt động, chương trình hay liên kết trong các cộng đồng mạng như diễn đàn, mạng xã hội, blog v.v... không nằm ngoài mục tiêu là giới thiệu sản phẩm và dịch vụ của công ty tới người tiêu dùng. Đặc điểm của hình thức này là tạo ra hiệu ứng lan truyền hay truyền miệng của các cư dân mạng về sản phẩm hay dịch vụ của công ty. Một ví dụ cho hình thức Viral Marketing trong khoảng thời gian gần đây là chương trình hợp tác giữa VietnamWorks và Yahoo! Hỏi Đáp. VietnamWorks trở thành đối tác tri thức độc quyền đầu tiên của Yahoo nhằm tư vấn nghề nghiệp cho độc giả trên chuyên trang Yahoo! Hỏi và Đáp.

Với những công việc như vậy, tố chất cần có của một chuyên viên Marketing TT là gì?

Ngoài tố chất nhanh nhẹn, sáng tạo, khả năng đàm phán, phân tích và quản lý dự án tốt, chuyên viên Marketing TT còn cần phải có kiến thức về công nghệ và biết cách ứng dụng công nghệ để xây dựng được các chương trình marketing hiệu quả và tiết kiệm chi phí.

Điều này có nghĩa là bên cạnh kiến thức marketing truyền thống, người làm Marketing TT cần phải có kiến thức chuyên ngành Marketing TT, hiểu biết những công nghệ, thuật ngữ để có thể làm việc với các đối tác trong ngành cũng như đánh giá được hiệu quả của các chương trình marketing.

Trong tình hình kinh tế suy thoái, nhu cầu tuyển dụng chuyên viên Marketing TT có bị suy giảm không?

Marketing TT đang dần chiếm vai trò quan trọng trong các doanh nghiệp bởi tính hiệu quả cao và khả năng tiết kiệm chi phí. Đặc biệt trong thời điểm kinh tế suy thoái, Marketing TT chắc chắn sẽ là một công cụ đắc lực cho doanh nghiệp. Vì vây, tôi tin rằng các chuyên viên Marketing TT có năng lực sẽ luôn được các công ty săn đón.

Mức lương trong ngành này như thế nào?

Tùy theo lĩnh vực phụ trách, mức lương của cấp chuyên viên có thể dao động từ 300 đến 800 USD. Nếu ở cấp quản lý, bạn có thể nhận đựơc mức lương từ 1000 đến 2000 USD. Con số này sẽ thay đổi tùy theo năng lực thật sự của bạn và quy mô của công ty bạn làm việc.

VietnamWorks

Kỹ năng Marketing trực tuyến

Quảng cáo sản phẩm và dịch vụ trên mạng được xem là một phương thức marketing hướng đối tượng thích hợp. Nó có khuynh hướng kích thích sự quan tâm của người mua hàng tới sản phẩm trên trang web của bạn. Chính vì thế, quảng cáo trên mạng có thể có hiệu quả hơn nhiều so với quảng cáo đại trà trên ti vi, báo chí hoặc các phương tiện thư từ khác.

1. Giới thiệu khách hàng đến với trang web của bạn

· Sử dụng các công cụ tìm kiếm đa chức năng.
· Cung cấp cho khách hàng các địa chỉ website mới của bạn, cho phép họ truy cập vào trang web của bạn một cách thường xuyên.
· Công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng về website của mình
· Thiết lập các đường dẫn tới các website tuơng thích với website của bạn, chẳng hạn những website về cùng một thị trường định hướng giống như bạn và không cạnh tranh với website của bạn .
· Viết các bài báo, bài bình luận, những trang web mà ngành của bạn thường hay quan tâm .
· In địa chỉ web, E-mail trên các đồ văn phòng phẩm và các cardvisit của công ty.
· Quảng cáo trang web trên các phương tiện thông tin ở địa phương.
· In địa chỉ trang web trong cuốn những trang vàng địa chỉ Internet.
· Thông báo cho những người đại diện bán hàng về website mới.
· Ðưa ra các mức giảm giá cho những người mua hàng trực tuyến.
· Gửi các bưu ảnh hài hước về trang web của mình.
Như những nguyên tắc trên đã chỉ ra, bạn nên quảng cáo website của mình thông qua các hình thức quảng cáo truyền thống và thông qua hình thức quảng cáo sử dụng các kết nối tương hỗ. Nếu khách hàng quan tâm đến nhưng thông tin của bạn, họ sẽ đánh dấu địa chỉ và truy cập vào lần sau.

2. Những nhân tố giúp cho việc bán các sản phẩm, dịch vụ có hiệu quả trên mạng.


· Sử dụng những hình thức đặc biệt để mô tả sản phẩm và dịch vụ. Nếu có thể mô tả sản phẩm và dịch vụ của mình bằng các hình thức đặc biệt, thì nên áp dụng hình thức đó trên mạng bởi vì tìm kiếm trên mạng dễ dàng hơn nhiều nhờ sự hỗ trợ của các phương tiện tìm kiếm đặc biệt. Bạn cũng có thể quảng cáo cho sản phẩm và dịch vụ bằng sự kết hợp của nhiều hình thức khác nhau mà khách hàng có thể sẽ áp dụng khi tìm kiếm các loại sản phẩm của mình với điều kiện là những hình thức đó sẽ xuất hiện thường trực trên các trang web mà bạn yêu cầu những phương tiện tìm kiếm đó liệt kê lên.

· Sử dụng chính sách định giá cạnh tranh. Nơi nào trên Internet hỗ trợ khách hàng so sánh giá của những mặt hàng cùng loại thì những mặt hàng có giá thấp nhất sẽ bán chạy nhất. Ðồng thời đối với hầu hết các sản phẩm, những mức giá trực tuyến có thể sẽ phải thấp hơn giá trên các cửa hàng nhằm tạo nên một sự ưu đãi để tạo sự tin tưởng của khách hàng đối với các nhà bán lẻ trên mạng, một phần do thiếu đi sự gặp gỡ giữa các cá nhân trong các giao dịch, và để bù lại việc khách hàng không thể mang hàng về cho mình.

· Yếu tố hữu hình: Khách hàng vẫn muốn cầm nắm, xem xét, nếm, thử hoặc nói chuyện với một ai đó trước khi mua hàng. Người bán nên cung cấp các sản phẩm của mình cho các cửa hàng bán lẻ hoặc dự trữ các sản phẩm đó ở những nơi mà khách hàng có thể đến để cận mục sở thị trước khi quay lại mạng để tiến hành mua bán.

· Sự đồng nhất của các mặt hàng. Các mặt hàng sản xuất hàng loạt thường dễ bán hơn so với các mặt hàng thủ công hoặc sản xuất theo phương pháp truyền thống. Những mặt hàng sản xuất hàng loạt thường có sự nhất quán hơn về các đặc điểm của mình, có chi phí sản xuất dễ tính hơn, và được nhiều người biết hơn.

· Những yêu cầu gián tiếp. Khách hàng sẽ có khuynh hướng mua các mặt hàng chưa có nhu cầu hiện tại trên mạng hơn là các mặt hàng để sử dụng ngay. Những nhà sản xuất có khả năng lập các kế hoạch sản xuất định trước, các kế hoạch xếp hàng và giao hàng sẽ có cơ hội lớn hơn trong việc sử dụng Internet để xúc tiến bán hàng.

· Sự hiểu biết của khách hàng về sản phẩm. Người ta cho rằng thương mại trực tuyến giữa các doanh nghiệp (B2B) sẽ tăng nhanh hơn thương mại trực tuyến giữa doanh nghiệp và khách hàng (B2C) (Trừ trường hợp đối với các công ty lớn như Amadon, Auto Bytel , CD Now And Dell). Lý do là không giống như phần lớn các khách hàng, các doanh nghiệp không lạ gì những đặc điểm của mặt hàng mà họ cần và vì thế cảm thấy thoả mái hơn trong việc đặt hàng trên mạng.

· Các mặt hàng được mua bán thường xuyên. Những mặt hàng được tiêu chuẩn hoá được mua bán thường xuyên (đồ gia dụng, quần áo trẻ em, đồ văn phòng phẩmv.v...) thường quen thuộc với khách hàng và vì thế dễ dàng đặt hàng trên mạng hơn. Những giao dịch này sẽ tiết kiệm thời gian và tránh cho họ thoát khỏi sự nhàm chán khi mua bán.

3. Những dịch vụ có thể triển khai được trên mạng.


Những dịch vụ sau đây là những dịch vụ có thể triển khai thành công trên mạng.

· Kế toán
· Quảng cáo
· Giáo dục đào tạo mang tính thương mại
· Các phần mềm và dịch vụ máy tính
· Môi giới hải quan
· Các dịch vụ tài chính, y tế, chăm sóc sức khoẻ từ xa
· Bảo hiểm
· Nghiên cứu thị trường.
· Tìm kiếm lao động
· Thông tin và truyền thông
· Các dịch vụ lữ hành
· Dịch thuật
· Thiết kế và bảo trì trang web
· Tư vấn quản lý
· Giáo dục
· Dịch vụ in ấn và đồ hoạ
· Các dịch vụ đấu giá
· Các dịch vụ viết thuê

Chỉ cần đảo qua một số trang web tìm kiếm chủ yếu như Yahoo (www.yahoo.com) hoặc là Google (www.google.com) có thể thống kê ra một loạt các dịch vụ thuộc mọi thể loại khác nhau đang được cung cấp trên mạng.

Sự thành công của một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên mạng cũng phụ thuộc vào các yếu tố thông thường; chẳng hạn mức độ sản phẩm đó đáp ứng nhu cầu thị trường như thế nào. Tuy nhiên, các nhà cung cấp dịch vụ lại có duyên với Internet bởi vì các sản phẩm của họ có khuynh hướng được xử lý bằng kỹ thuật số. Phần lớn các nhà cung cấp dịch vụ hoạt động thu thập, lưu trữ, điều khiển và truyền bá thông tin .

Các thông tin được số hoá có thể dễ dàng thu thập và truyền tải ở mức chi phí thấp hơn thông qua Internet so với các phương tiện khác.Các dịch vụ viễn thông cũng thu hút được rất nhiều khách hàng thông qua Internet. Tiếng nói thông qua các nhà cung cấp cổng Internet sử dụng công nghệ IP để truyền tiếng nói điện thoại thông qua các kênh dữ liệu là một lĩnh vực đang tăng trưởng mạnh nhất khắp nơi trên thế giới.

4. Những sản phẩm mà khách hàng có thể tìm mua trên mạng .

Nghiên cứu của Forester Research 1998 đã chia thị trường bán lẻ trực tuyến thành 3 loại mua bán: Hàng hoá tiện dụng, hàng hoá và dịch vụ nghiên cứu bổ sung và hàng hoá thông thường. Những hàng hoá tiện dụng được mua bán như là sách, âm nhạc, quần áo và hoa . Người ta dự tính là sự đa dạng của hàng hoá tăng lên, sự xuất hiện của dịch vụ gửi hàng và sự xúc tiến bán lẻ rộng rãi sẽ làm tăng sự thông dụng của việc buôn bán hàng hoá này trên mạng. Những hàng hoá bổ sung được mua bán phổ biến hơn, chẳng hạn như hàng tạp hoá, hàng cá nhân, những mặt hàng này tuy có giá thành trung bình nhưng lại là thiết yếu do trở ngại từ việc thiếu một hệ thống phân phối khả dĩ và sự bắt nhịp chậm chạp về Thương mại điện tử của khách hàng. Cho nên người ta đánh giá thị trường này chủ yếu phát triển trong một số lĩnh vực nhất định như hàng đặc dụng, hàng dược phẩm. Chi phí của hàng hoá và dịch vụ liên quan đến nghiên cứu cao hơn nhiều so với hai chủng loại hàng hoá trên và là những mua bán được sắp đặt trước theo khuynh hướng thông tin; Loại này bao gồm vé máy bay, máy tính , ô tô. Việc cung cấp các nguồn thông tin trực tuyến và doanh số của loại này sẽ có xu hướng tăng lên đáng kể.

Những sản phẩm mà khách hàng có thể mua qua mạng .


· Các sản phẩm máy tính.
· Sách
· Ðồ điện tử
· Các tour du lịch
· Các tạp chí thường kỳ v.v...

Người ra dự tính rằng các lĩnh vực tăng trưởng chính trong Thương mại điện tử sẽ là truyền thông toàn cầu và các ngành công nghiệp giải trí, du lịch (bao gồm khách sạn và hàng không), các dịch vụ chuyên nghiệp và tài chính, bảo hiểm và bán lẻ. Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng những nhân tố thành công của các sản phẩm nhất định bao gồm các yếu tố: thương hiệu mạnh, sản phẩm đặc trưng và chào giá cạnh tranh.

Cần lưu ý rằng chưa có một nghiên cứu hoàn chỉnh nào về khía cạnh tâm lý của khách hàng trên mạng để xác định tại sao một số mảng khách hàng hoặc doanh nghiệp lại mua sản phẩm và dịch vụ này trong khi số khác thì không. Vào tháng 7/1998 trường Ðại học tổng hợp Wayne ở thành phố Chicagô thuộc tiểu bang Michigant đã tiến hành khảo sát 113 công ty, khoảng 87% số đó cho biết rằng họ không mua hàng hoá và dịch vụ trong 6 tháng trước đó. Có vẻ như rằng sự e ngại của khách hàng, ở một mức độ nhỏ hơn là của doanh nghiệp để tìm kiếm và mua hàng hoá và dịch vụ qua mạng đã vượt ra ngoài những lo ngại về vấn đề an ninh, tài chính của các giao dịch. Một nghiên cứu giới hạn đã được tiến hành để tìm ra những nhân tố này. Một câu hỏi khá thú vị là mức độ của việc thay đổi thói quen mua hàng của khách hàng và doanh nghiệp. Có lẽ các doanh nghiệp sẽ dễ dàng thay đổi hơn để cắt giảm chi phí, cải thiện thời gian giao hàng, liên lạc với nhà cung cấp, và đơn giản chỉ là tăng hiêu quả của việc đặt hàng, gửi hàng và giao hàng . Hơn nữa có lẽ hình thức mua bán giữa các doanh nghiệp B2B tăng lên bởi vì nó có đặc điểm khác với những thói quen mua hàng cá nhân truyền thống. Ðiều quan trọng là phải đặt ra câu hỏi có phải do đặc trưng của người mua hàng muốn trực tiếp đi dạo qua các gian hàng, các cửa hiệu, các trung tâm thương mại, các cửa hàng bách hoá hay là họ muốn mua hàng qua mạng để tiết kiệm thời gian cho những hoạt động khác như thể thao, giải trí,v.v...

Theo VNEmart

15 kỹ năng marketing

15 kỹ năng marketingCác kỹ năng marketing mà một người làm marketing cần nắm vững để có thể thể hiện tốt vai trò marketing trong tổ chức, doanh nghiệp trong bối cảnh thị trường hội nhập.

1. Kỹ năng nghiên cứu, phân tích khách hàng và thị trường

Marketing làm thỏa mãn khách hàngMarketing hiện đại không bắt đầu từ trong phòng máy lạnh, lại càng không bắt đầu từ ý muốn chủ quan của những người trong công ty, marketing bắt đầu từ thị trường, từ nhu cầu người tiêu dùng, từ các yếu tố tác động đến hoạt động doanh nghiệp như môi trường vĩ mô và vi mô, và từ tình hình cạnh tranh. Người làm marketing phải biết thu thập thông tin và phân tích khách hàng và thị trường.

2. Kỹ năng phân khúc thị trường

Thị trường bao la, việc cung cấp một sản phẩm/dịch vụ chung cho tất cả thị trường không còn phù hợp trong thị trường trăm người bán vạn người mua như ngày nay. Người làm thị trường phải biết cách "nhìn" thị trường với nhiều mảng khác nhau theo cách nhìn riêng của mình, những mảng thị trường nầy có những sự khác biệt đặc trưng khác nhau. Nói một cách khác là phải nắm vững kỹ thuật phân khúc thị trường.

3. Kỹ năng phân tích lợi thế cạnh tranh


Hoạt động của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh bị chi phối bởi các đối thủ cạnh tranh. Tổ tiên người Việt đã nói "biết người, biết ta trăm trận trăm thắng", người làm thị trường phải biết vị trí cạnh tranh của mình so với từng đối thủ để từ đó có thể vạch ra chiến lược thích hợp.

4. Kỹ năng xác định thị trường mục tiêu

Trong một bối cảnh thị trường đa dạng và phong phú như ngày nay, câu hỏi "thị trường nào tôi nên cạnh tranh, thì trường nào tôi không nên?" luôn là một câu hỏi lớn mang tính chiến lược mà từng doanh nghiệp phải trả lời. Người làm marketing phải biết kỹ thuật phân tích để trên cơ sở đó chọn ra thị trường phù hợp với năng lực của doanh nghiệp.

5. Kỹ năng hoạch định chiến lược marketing

Chiến lược marketing là kim chỉ nam, là cơ sở để hoạch định marketing mix, người làm thị trường ở cấp quản lý phải có khả năng hoạch định chiến lược để định hướng cho hoạt động marketing của doanh nghiệp.


6. Kỹ năng xây dựng giải pháp cho khách hàng

Trên cơ sở những hiểu biết về khách hàng, người làm marketing phải có năng lực xây dựng gói giải pháp (sản phẩm, dịch vụ và những giá trị gia tăng khác) đáp ứng nhu cầu và làm hài lòng khách hàng, tạo ra lợi thế ưu việt so với đối thủ.

7. Kỹ năng phát triển sản phẩm mới

Doanh nghiệp luôn cần sản phẩm mới để phát triển trong khi theo thống kê trên 70% sản phẩm mới ra đời bị thất bại trong 2 năm đầu tiên. Để giảm thiểu rủi ro cho doanh nghiệp, người làm marketing phải nắm được những nguyên tắc cơ bản và qui trình phát triển sản phẩm mới.

8. Kỹ năng phát triển thị trường mới


Song song với việc phát triển sản phẩm mới, phát triển thị trường mới cũng là một nhu cầu thường xuyên của doanh nghiệp, người làm marketing cần nắm được những nguyên tắc, kỹ thuật và lộ trình hoạch định chiến lược phát triển thị trường mới.

9. Kỹ năng xây dựng chiến lược giá

Doanh nghiệp phát triển sản phẩm và cung cấp dịch vụ để mang lại lợi ích cho khách hàng, thế còn lợi ích của doanh nghiệp thì ai lo? Người làm marketing phải có kỹ năng sử dụng công cụ giá để thu lại giá trị và tối ưu hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp.

10. Kỹ năng xây dựng chiến lược kênh

Thị trường là bao la, nhưng nếu không biết cách và đi lạc lối thì sẽ gặp khó khăn và không thể phát triển. Đã có nhiều doanh nghiệp thất bại vì không có một chiến lược thâm nhập thị trường thích hợp. Người làm marketing phải có năng lực hoạch định chiến lược kênh marketing để đưa sản phẩm/dịch vụ đến với khách hàng một cách hiệu quả.

11. Kỹ năng xây dựng chiến lược truyền thông


Để khách hàng nhớ đến và có thiện cảm với thương hiệu, biết rõ những ưu điểm của sản phẩm và hiểu rõ lý do tại sao họ nên mua sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệp thay vì mua của đối thủ, người làm marketing cần phải nắm vững kỹ năng hoạch định chiến lược và biết sử dụng những công cụ truyền thông hiện đại nhằm mang lại hiệu quả tối ưu. Kỹ năng nầy thực sự quan trọng trong bối cảnh doanh nghiệp hoạt động với một ngân sách marketing hạn chế.

12. Kỹ năng xây dựng chiến lược thương hiệu


Doanh nghiệp cần xây dựng một thương hiệu, hay một hệ thống thương hiệu thân thiện, gần gủi trong tâm trí của khách hàng. Người làm marketing cần phải nắm những nguyên tắc cần thiết để hoạch định và quản trị một chiến lược thương hiệu nhất quán với tầm nhìn, sứ mệnh, và phù hợp với chiến lược lâu dài của doanh nghiệp.

13. Kỹ năng hoạch định kế hoạch marketing ngắn hạn và trung hạn

Chiến lược là xương sống, là kim chỉ nam, là lợi thế cạnh tranh bền vững, là yếu tố mang tính sống còn đối với doanh nghiệp. Việc hoạch định chiến lược nói chung và chiến lược marketing nói riêng luôn đòi hỏi phải nắm vững kiến thức và kỹ năng để có thể dẫn dắt tổ chức tham gia trong suốt quá trình hoạch định kế hoạch.

14. Kỹ năng quản trị dự án marketing


Để tổ chức tung một sản phẩm mới, khai phá một thị trường mới, hay triển khai một sáng kiến marketing thành công, người làm marketing phải nắm được những kiến thức và kỹ năng cần thiết của công tác quản trị dự án marketing.

15. Kỹ năng tổ chức và quản lý hoạt động marketing

Có được một chiến lược tốt, một kế hoạch được hoạch định tốt chỉ mới quyết định 50% thành công, 50% còn lại phụ thuộc vào việc triển khai thực hiện. Để đảm bảo thực hiện thành công kế hoạch marketing, người làm marketing phải có kỹ năng tổ chức và triển khai hoạt động marketing.

MarMedia (ST)

Kỹ năng Marketing

Kỹ năng Marketing: Ngữ pháp tiếp thị Bạn hãy nghĩ về những chiếc xe ôtô Mercedes và miêu tả nó trong một từ. Gần như chắc chắn đó là "sang trọng". Bây giờ hãy nghĩ về chiếc xe ôtô Volvo và cũng miêu tả nó trong một từ. Liệu từ "an toàn" có xuất hiện trong tâm trí bạn?

Rất nhiều chuyên gia về nhãn hiệu đã đúng: Bạn sẽ không thể đi xa mà không có "ngữ pháp" riêng của bạn. Việc có được một ngữ pháp tiếp thị (marketing grammar) thích hợp với ngôn ngử sử dụng chuẩn xác là rất quan trọng để mọi người hiểu rõ về bạn.

Hiện nay, đối với không ít công ty, ngữ pháp tiếp thị vẫn còn là một khái niệm xa lạ Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi nhiều khách hàng rất hay nhầm lẫn và khó hiểu về những gì mà họ cung cấp.

Vậy ngữ pháp tiếp thị là gì?

Ngữ pháp tiếp thị đơn giản tập trung vào danh từ, động từ và tính từ. Khi bạn ngồi xuống và sử dụng bộ não để phân tích chi tiết hơn, bạn có thể xác định được ngữ pháp cho công việc tiếp thị của bạn.

Theo cách đó, không chỉ công ty của bạn nhận thức rõ ràng về những sản phẩm/dịch vụ mà mình đang cung cấp mà cả người mua cũng có thể xác định được nó qua một câu duy nhất bao gồm một danh từ. một động từ và một tính từ.

Hãy bắt đầu với danh từ!

Danh từ được xem là hạt nhân của định nghĩa nhãn hiệu.Ví dụ, danh từ cho Mercedes sẽ là "chiếc xe ôtô" (car) và cho Coca-Cola sẽ là "đồ uống" (drink). Mọi tên nhãn hiệu sẽ được thể hiện thông qua một danh từ riêng biệt.

"Một danh từ tiếp thị" (marketing noun) định hình nên nền tảng của chiến lược như thế nào? Câu hỏi sau đó sẽ là: "Xe ôtô" có phải là danh từ cho BMW, Volvo và Mercedes? Vừa có vừa không. Danh từ như một chất gia vị giúp bổ sung thêm hương vị cho món ăn.

Ví dụ, nếu bạn chuẩn bị lựa chọn , danh từ có thể là "hòn đảo" (island) hay "quốc gia" (country). Nó đều là một danh từ, nhưng từ này sẽ mang hình ảnh hoàn toàn khác biệt với từ khác và vì vậy chúng sẽ bắt đầu cho những chiến lược khác nhau.

Tương tự, BMW đã tái xác định danh từ của hãng từ "chiếc xe ôtô" (car) thành "chiếc máy" (machine) và Coke cũng có thể xác định "đồ uống" (drink) của họ như "đồ giải khát" (refresher). Đây sẽ là khối đá xây dựng, khối bê tông vững chắc nhất mà trên đó bạn sẽ tạo ra ngữ pháp tiếp thị của mình.

Bức tranh các tính từ "đậm nét", "ý nghĩa", "mạnh mẽ",...

Bạn hãy thử thật nhanh chóng chỉ ra các tính từ cho: Marlboro, Apple Computers, Pepsi, Heineken và Rolls Royce. Nếu kết quả của bạn là: "đấng nam nhi", "khác thường", "trẻ trung", "cao quý" và "xuất sắc", thì bạn đúng là một người sành sỏi về các nhãn hiệu.

Mỗi một nhãn hiệu này gắn chặt với một tính từ, đồng thời sở hữu một "tính từ" trong hạng sản phẩm. Vì vậy, Rolls Royce có thể rất "xuất sắc" (classy) trong lĩnh vực sản xuất xe ôtô, trong khi Rolex cũng sở hữu sự "xuất sắc" (classy) trong lĩnh vực đồng hồ đeo tay, hay tương tự với Armani trong lĩnh vực thời trang.

Tuy nhiên một khi đã sở hữu nó, thì đó sẽ là tài sản cần nắm giữ. Tất cả những gì liên quan tới nhãn hiệu được gắn chặt xung quanh "tính từ". Vì vậy nếu bạn có ý định sử dụng "danh từ" và "tính từ" kết hợp với nhau chẳng hạn như "tối thượng" (ultimate) và "cỗ máy lái xe" (driving machine), bạn sẽ rất khó thoát khỏ hình bóng BMW. Nếu bạn kết hợp tính từ "ngày và đêm" (overnight) với danh từ "giao nhận" (delivery), chắc chắn đó sẽ là Federal Express.

Tính từ sẽ bổ sung màu sắc cho nhãn hiệu tạo ra một cầu vồng rực rỡ! Thiếu tính từ không khác gì việc bạn chèo thuyền qua con sông mà thiếu mái chèo. Khi nghĩ đến bất cứ nhãn hiệu lớn nào trên thế giới, bạn sẽ đều thấy một tính từ.

"Just do it" và những động từ tương tự như vậy

Nike sử dụng nó trong mọi thời điểm. Động từ luôn là phần khó khăn nhất trong ngữ pháp nhãn hiệu. Tuy nhiên, một khi tìm được một động từ đúng, bạn đã mở được cảnh cửa "giới thiệu sống động" (live presentations), bởi vì đó chính là những gì đúng với bản chất của động từ: một từ ngữ chỉ hành động!

Ví dụ, "Tái khởi động các khách hàng kinh doanh ngủ đông" (Reactivating dormant business clients) là một cụm từ nhãn hiệu khá bản lề. Điều đó có nghĩa rằng công ty có thể biểu lộ một vài nội dung tích cực cho việc "tái khởi động" (reactivation), có thể là một chiếc đồng hồ báo thức, hay một cục nam châm tới điều gì đó thật mới mẻ như cappuccino! Bất cứ điều gì đánh thức bạn dậy và khiến bạn hành động một lần nữa đều là sự tái khởi động.

Có thể thấy rằng những slogan nhãn hiệu xuất sắc nhất qua thời gian đều có một sự phối kết hợp tuyệt vời giữa danh từ, tính từ và động từ.

Nike sử dụng động từ như một tính từ. Slogan của Nike kêu gọi hành động nhưng cũng xác định rất rõ ràng một thái độ (hay tính từ) đó là "cấp tiến" (radical).

Những gì sẽ phải làm tiếp theo?

Một khi có trong tay danh từ, tính từ, động từ, bạn bắt đầu hiểu được bản thân tốt hơn nhiều. Hoan hô bạn!

Tuy nhiên, bạn có thể đi xa hơn nữa. Ví dụ, nếu bạn là hãng Rolex và bạn sở hữu danh từ "sự chính xác" (precision) (không phải là "đồng hồ") và tính từ "xuất sắc" (classy), bạn sẽ quảng cáo như thế nào?

Có rất nhiều nơi thể hiện "sự chính xác" và "xuất sắc", chẳng hạn như giải quần vợt Wimbledon hay kênh truyền hình National Geographic. Tất cả đều "chính xác" và đều "xuất sắc". Và một điều nữa tất cả những nơi này đều góp phần thu hút những khách hàng mục tiêu mong muốn đeo chiếc đồng hồ Rolex.

Nó cũng làm rõ ràng những mập mờ trong tâm trí khách hàng. Chúng làm cho khách hàng hiểu rõ tại sao họ nên chọn lựa bạn. Trong một thế giới mà sức ép cạnh tranh không ngừng gia tăng, điều đó thực sự là những yếu tố hữu ích làm tăng sự thu hút cho nhãn hiệu của công ty bạn.

Nếu bạn hiểu rõ lý do tại sao các khách hàng lựa cho bạn, thì hoạt động quảng cáo của bạn sẽ càng sắc cạnh và có trọng điểm bấy nhiêu.

Đến lúc này, công việc của bạn là để slogan của mình trở nên độc nhất vô nhị. Một trong những cách thức đó là sở hữu cho riêng mình một màu sắc nào đó.

Chẳng hạn nhìn vào thế giới dịch vụ chuyển phát: UPS sở hữu màu nâu, FedEx là sự phối kết hợp giữa màu da cam và màu tía. Còn DHL có màu đỏ. Để tránh những va chạm với nhau, bạn sẽ phải lựa chọn cho mình một màu sắc riêng trong hình ảnh nhãn hiệu.

Cuối cùng, làm thế nào để biết được liệu nhãn hiệu của công ty của bạn có được các khách hàng cảm nhận đúng như ý tưởng của bạn đã thổi vào đó không?

Chỉ có một cách duy nhất. Đó là bạn viết ra những nhận thức của mình dưới dạng danh từ, tính từ, động từ và cả màu sắc. Sau đó bạn đề nghị các khách hàng cũng viết như vậy. Nếu có sự tương đồng, thì bạn đã có thể thở phào nhẹ nhõm. Còn nếu sự khác biệt là quá lớn, đã đến lúc bạn cần phải suy nghĩ lại nghiêm túc về các phương tiện mà bạn sử dụng để truyền tải nhãn hiệu của mình.

Theo Bwportal

Các đặc trưng của quảng cáo trực tuyến Việt Nam

Vì hiện tại ngành quảng cáo trực tuyến còn khá non trẻ, nên không có gì đáng ngạc nhiên khi số liệu của Hiệp hội quảng cáo Việt Nam (VAA) cho thấy trên 80% thị phần quảng cáo trong nước thuộc về các đài truyền hình, sau đó là quảng cáo trên ấn phẩm báo chí. Thị phần QCTT chỉ chiếm hơn 1% tổng thị trường quảng cáo.

Quảng cáo trực tuyến

Đặc trưng của quảng cáo trực tuyến Việt Nam

Triển vọng ngành quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam khá lạc quan. Theo số liệu của Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC), hiện có xấp xỉ 19 triệu người, chiếm 22,47% dân số VN thường xuyên tiếp cận với lnternet.

Còn theo ước tính của các chuyên gia về QCTT, doanh thu của thị trường QCTT ở Việt Nam vào năm 2009 khoảng 160 tỉ VND.

1. Cách thức chính vẫn là quảng cáo bằng Banner

Quảng cáo và sáng tạo tại các website Việt Nam không khác biệt mấy với các website Châu Âu, nhưng các website Việt Nam sử dụng text và banner là chính, với một chút cải tiến về cách thức (không có nhiều dạng quản cáo "dynamic rich media" [DRM] hoặc các quảng cáo về video).

DRM, hay các quảng cáo rich media là khái niệm bạn sử dụng những công nghệ có tính chất giàu thông tin như có hình ảnh, thông tin, âm thanh, film để làm quảng cáo. Ở Việt Nam phổ biến nhất là dùng Flash, với các chuyển động mượt mà và sống động. Tuy nhiên, nó còn thấp hơn tầm Rich Media ở chỗ, bạn có rất ít tương tác. Bạn có thể xem các quảng cáo trên MSN, hoặc Yahoo, bạn có thể bấm vào, xem nó thay đổi, hoặc nó có thể tự thay đổi mà không cần phải có bàn tay người quảng cáo đụng vào.

2. Các banner trượt

Các banner quảng cáo ở Việt Nam thường sử dụng các frames để giữ các banner luôn nằm ở tầm mắt người đọc. Khi người đọc cuộc xuống, vị trí các quảng cáo này trong tầm mắt người đọc. Nhìn chung, bạn sẽ không thấy chúng trong các website phương Tây, nhưng lại rất phổ biến ở Việt Nam.Một ví dụ là là các banner trượt, khi bạn cuộn trang, thường nằm ở hai bên trái và phải của nội dung, có thể nhìn thấy ở nhacso.net, 24h.com.vn, hoặc ngoisao.net

3. Ngôn ngữ

Tiếng Việt là một yêu cầu bắt buộc trong thị trường này. Bạn cũng cần tìm hiểu xu hướng, sắc thái về màu sắc, hình thức và các yếu tố về văn hóa bao gồm ngôn ngữ- cần được nghiên cứu cẩn thận trước khi có bất kỳ hành động xâm nhập thị trường.

Về thuộc tính bản địa ở đâu cũng có đặc trưng riêng, ở Hàn Quốc với băng thông rộng ứng dụng nhiều quảng cáo hình ảnh, rich media. Google Hàn Quốc cũng phải bản địa hóa với nhiều màu sắc hơn, tươi trẻ hơn. Còn tại Trung Quốc, cũng có các yếu tố màu sắc, sở thích đặc trưng. QQ, Baidu đã khai thác thế mạnh bản địa của mình để Google, Yahoo cũng phải méo mặt tại thị trường này.

Google đã phải chấp nhận một số yêu sách từ chính phủ Trung Quốc để được cạnh tranh tốt hơn với các ứng dụng tìm kiếm Trung Quốc (nhất là Baidu) , cho thấy sức mạnh bản địa khủng khiếp tới mức nào. Bạn muốn quảng cáo, muốn người khác vào xem hay mua hàng, bạn cần phải hiểu họ nhiều hơn.

4. Google Adsense

Với quảng cáo bằng đại lý phân phối quảng cáo, Google Adsense phổ biến nhất tại Việt Nam. Bạn có thể là đại lý đặt quảng cáo cho các công ty hosting, stockphoto, hay tương tự như thế. Họ sẽ trả cho bạn mỗi khi có người dùng bấm vào (gọi là "pay-per-click").

Google AdSense rất phổ biết trên nhiều website. Nhưng hiện tại nó không hoàn toàn thấu hiểu khách hàng. Một phần là rào cản ngôn ngữ, một phần là người dùng Việt Nam chịu nhiều thiệt thòi. Google hiện tại không hỗ trợ website Tiếng Việt đặt quảng cáo, trong khi có nhiều công ty Việt Nam đăng ký quảng cáo của Google. Và bạn cũng chỉ có thể nhận tiền bằng check, các hỗ trợ từ Google gần như không có. Google Adsense hoặc các công ty khác như Overtune (cty phụ trách quảng cáo trực tuyến của Yahoo) nên làm mọi thứ dễ dàng hơn với người Việt Nam.

5. Dị ứng quảng cáo

Khi những banner dày đặc trên các website, mà vnexpress, dantri.com là một ví dụ, thì quảng cáo không còn hiệu quả nữa. Người dùng dị ứng với cột thứ ba, và website có ba cột quen thuộc.
Một nhà quản lý chiến dịch quảng cáo làm việc toàn thời gian tại thị trường Việt nam đã nói "đó là một người phụ nữ tệ hại, các kênh quảng cáo còn rất mới mẻ tại Việt Nam. Người ta nhầm lẫn khi làm mọi thứ đơn giản nhất có thể, như đặt các liên kết mà không cần tracking code. Đa số các đơn vị cho đặt quảng cáo chỉ theo học các khóa ngắn hạn mang tính đối phó. "

Tracking code là cách để kiểm tra xem các banner hay quản cáo hoạt động thế nào trong mỗi chiến dịch quảng cáo, chẳng hạn có bao nhiêu người bấm, họ đến từ banner nào, từ website nào.

Friday, August 27, 2010

Quảng cáo trực tuyến tăng trưởng mạnh

Doanh thu quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam năm ngoái đạt 278 tỷ đồng, tương đương 15,5 triệu đôla, theo số liệu mới công bố của Công ty Nghiên cứu thị trường Cimigo.

"Dù vẫn còn non trẻ, thị trường quảng cáo Việt Nam đã tăng trưởng 71% so với năm 2008", ông Lukas Mira, Giám đốc trực tuyến của Cimigo nhận xét.

Đây là lần đầu tiên một báo cáo tổng hợp doanh thu quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam được công bố.
Thành lập tại TP HCM năm 2003, Cimigo là một nhóm chuyên gia độc lập về nghiên cứu marketing và nhãn hiệu Cimigo, với đội ngũ 200 chuyên viên nghiên cứu thị trường Hiện tại, Cimigo hoạt động trên toàn khu vực châu Á Thái Bình Dương từ Nhật Bản đến Campuchia.

Cimigo cho biết nghiên cứu này đo lường dữ liệu về doanh thu từ trang web, mạng quảng cáo, các đại lý truyền thông cũng như những công ty sử dụng quảng cáo trực tuyến. Dữ liệu được thu thập trực tiếp từ các công ty cung cấp dịch vụ quảng cáo trực tuyến. Bản báo cáo phân tích doanh thu theo từng ngành kinh doanh, theo định dạng quảng cáo cũng như mô hình tính phí và kênh bán hàng.

Theo đánh giá của Cimigo, thị trường quảng cáo trực tuyến ở Việt Nam vẫn chưa theo kịp đà tăng trưởng. Internet đóng vai trò ngày càng quan trọng trong cuộc sống, nhưng quảng cáo qua mạng vẫn chiếm một phần rất nhỏ trong tổng đầu tư quảng cáo, và con số này thấp hơn so với các nước cùng khu vực Đông Nam Á. Để tiếp cận với một người dùng Internet, các nhà quảng cáo tại Việt Nam mới chi 50 cent (tương đương 10.000 đồng) mỗi năm, trong khi con số này tại Trung Quốc cao gấp 15 lần

“Hơn nửa dân số Việt Nam tiếp cận Internet, và trung bình họ dành hơn hai tiếng đồng hồ lướt mạng. Tuy nhiên các nhà quảng cáo vẫn còn hoài nghi về việc sử dụng kênh thông tin này để tiếp cận các đối tượng khách hàng”, ông Lukas Mira nhận xét.

Tăng trưởng quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam, nếu đúng như nghiên cứu của Cimigo, vẫn khả quan hơn so với tình hình chung trên thế giới. AFP hôm nay trích thông tin từ Hiệp hội Báo chí Mỹ cho thấy doanh thu quảng cáo báo in và điện tử tại đây giảm 27,2% trong năm 2009, xuống còn 27,56 tỷ USD. Trong đó doanh thu báo in giảm 28,6% xuống 24,82 tỷ USD, mức thấp nhất kể từ năm 1985. Doanh thu quảng cáo trực tuyến giảm 11,8% xuống còn 2,74 tỷ USD.

Tờ Financial Times đưa thống kê của bộ phận Carat thuộc hãng truyền thông Aegis Group, trong đó dự báo doanh thu quảng cáo toàn cầu năm nay có thể tăng 2,9% và tăng 4% vào năm 2011. Trong đó, thị trường quảng cáo châu Á dự kiến tăng trưởng 6,8% năm nay và 7,2% năm tới. Riêng tại Trung Quốc, tốc độ tăng trưởng của năm nay và năm tới đều là 11%. Quảng cáo tại Mỹ và châu Âu sẽ ổn định trở lại. Đức và Nhật Bản sẽ tiếp tục giảm mạnh tới hết 2011 do ảnh hưởng bởi môi trường kinh tế.

Quảng cáo trực tuyến toàn cầu năm 2010 dự báo sẽ tăng trưởng với tốc độ 2 con số.

Song Linh