Sunday, February 20, 2011

Quy luật đơn nhất trong xây dựng nhãn hiệu trên Internet

Có một điểm khác biệt lớn giữa việc xây dựng nhãn hiệu trên Internet và trong thế giới thực. Thế giới thực luôn có chỗ cho một nhãn hiệu thứ hai.

Quy luật đơn nhất trong xây dựng nhãn hiệu trên Internet

Có lý do tại sao những nhãn hiệu thứ hai lại có chỗ trên thị trường thực. Đó là vì chúng đáp ứng được nhu cầu không chỉ của người tiêu dùng mà còn của cả những cá thể khác trong cùng ngành đó.

Tất cả những đề nghị hợp tác trong kinh doanh đều có ẩn ý này: "Nếu anh từ chối thỏa thuận hợp tác này, chúng tôi sẽ chuyển nó sang cho đối thủ cạnh tranh của anh". Nhãn hiệu số hai thỏa mãn một nhu cầu rất thực tế của những cá thể trong cùng ngành đó. Gần như trong mỗi dòng sản phẩm đều có 2 nhãn hiệu chính.

Trên mạng Internet, không có gì xen vào giữa khách hàng và nhãn hiệu. Không có trung gian, không có các cá thể khác cùng ngành, không có người buôn bán bất động sản, không cần đối trọng nào để chống lại nhãn hiệu dẫn đầu. Đó là cái mà Bill Gates gọi là "Chủ nghĩa tư bản không có lực cản".

Kết quả tất yếu là mạng Internet trở nên giống một trận bóng đá hay một cuộc bầu cử chính trị. Đó là quy luật của sự đơn nhất. Vị trí thứ hai tức là không có vị trí nào cả.

Trong một đoạn quảng cáo truyền hình của Nike có bình luận về cuộc thi Olympics: "Giành được huy chương bạc tức là mất (huy chương) vàng". Trên Internet, không có huy chương bạc mà cũng chẳng có huy chương đồng. Trên Internet, các hãng độc quyền sẽ chiếm lĩnh vị trí thống trị. Không có chỗ cho nhãn hiệu thứ hai ở đây. Mạng internet hoạt động gần giống như công nghiệp phần mềm máy tính, nơi mỗi hạng mục sản phẩm có vẻ như đều bị thống trị bởi một nhãn hiệu.

Lý giải tại sao trên Internet lại không có chỗ cho nhãn hiệu thứ hai: Khi một nhãn hiệu dẫn đầu trên internet nó sẽ thu hút nhiều người sử dụng và càng thu hút được nhiều người truy cập thì nó càng trở nên nởi tiếng và hữu dụng hơn. Nhãn hiệu dẫn đầu sẽ tiếp tục củng cố vị thế của mình. Các nhãn hiệu phải đứng phía sau càng lâu thì càng khó đuổi kịp, thời gian qua đi thì cơ hội cũng biến mất.

Liệu có cơ hội nào cho một nhãn hiệu đang bị chôn vùi ở vị trí số hai vượt qua nhãn hiệu đang nằm ở vị trí số một trên Internet không? Không có khả năng nào, trừ phi nhãn hiệu dẫn đầu đó phạm phải một sai lầm nghiêm trọng nào đó. Nhưng hình thức cao nhất của tư duy chiến lược là trước tiên hãy nhìn tình thế của mình bằng con mắt thực tế.

Bạn sẽ cứ nằm ở vị trí thứ hai để chờ đợi nhãn hiệu dẫn đầu mắc phải sai lầm nghiêm trọng nào đó và nhân cơ hội đó trở thành nhãn hiệu dẫn đầu ư? Hãy nghĩ ra một phương án khác để trở dẫn đầu đi. Nhưng cách khác đó là gì? Nếu các quy luật về nhãn hiệu không thay đổi hãy làm theo cách tương tự như Amazon.com đã làm: Hãy là nhãn hiệu đầu tiên trong một dòng sản phẩm mới. Bạn luôn có thể tạo ra một cơ hội để nhãn hiệu của mình trở thành người tiên phong trong lĩnh vực mới bằng cách thu hẹp định hướng của mình, tập trung vào một phân khúc thị trường nhất định. Đơn giản chỉ có thế thôi.

Trong mỗi lĩnh vực, tất nhiên là vẫn có một số các nhãn hiệu khác. Nhưng nhãn hiệu nào sẽ chiến thắng trong lĩnh vực đó? Đó nhất thiết không phải là nhãn hiệu đầu tiên xuất hiện trên thị trường, cũng không nhất thiết phải là nhãn hiệu đầu tiên thu được lợi nhuận. Kẻ giành chiến thắng phải là một cái tên tạo được vị trí thống trị trong tâm trí khách hàng triển vọng. Sau đó sẽ là phần việc của "Quy luật đơn nhất": làm nản lòng và chiếm dần thị phần của kẻ đứng thứ hai.

Đừng vội nản chí nếu không phải là nhãn hiệu thống trị trong một lĩnh vực nào đó. Chỉ cần điều chỉnh lại chiến lược theo một hướng khác. Chỉ cần thu hẹp phạm vi hoạt động lại. Internet là một phương tiện truyền thông khổng lồ, các cơ hội để thu hẹp trọng tâm hoạt động là vô cùng lớn. (Lưu ý phạm vi hẹp phải còn đủ lớn hoặc thu được lợi nhuận mong muốn).

Cũng như việc hàng trăm hàng nghìn website thương mại điện tử, giải trí, cổng thông tin, diễn đàn, mạng xã hội... đang đầu tư nếu với ý định làm đúng những gì người dẫn đầu đang làm thì "giỏi lắm" sẽ có đúng những gì người dẫn đầu có. Nhưng quan trọng là chúng ta đang cạnh tranh trực tiếp với đối thủ dẫn đầu Nên nhà đầu tư cũng chỉ đạt được là số 2, hoặc không là gì cả nếu không có một chiến lược khác biệt.

Khi Internet phát tiếp tục phát triển hơn nữa, tất nhiên sẽ có những cơ hội các các nhãn hiệu số hai. Vậy đừng chần chừ, hãy bắt tay thực hiện kế hoạch trở thành nhãn hiệu hàng đầu trong dòng sản phẩm của mình hoặc tìm kiếm một cơ hội thu hẹp trọng tâm hoạt động để tạo ra một dòng sản phẩm mới mà trong đó bạn có khả năng trở thành nhãn hiệu hàng đầu.

Theo Saga

Năm 2011 chi tiền cho truyền thông xã hội hay SEO

Theo nghiên cứu của công ty tư vấn tiếp thị Econsultancy and ExactTarget- doanh nghiệp "phủ sóng" hơn 1 nghìn công ty, chủ yếu ở Mỹ và Anh, các doanh nghiệp đang chú trọng hơn đến tiếp thị kỹ thuật số với khoản đầu tư được dự đoán sẽ tăng 17% trong năm nay. Tiếp thị số sẽ chiếm đến 24% trong tổng số chi tiêu cho tiếp thị trong năm 2010,. Các công ty đang nghĩ cách bỏ thêm nhiều tiền vào truyền thông xã hội 'off-site' như Facebook và Twitter.

Năm 2011 chi tiền cho truyền thông xã hội hay SEO

Nghiên cứu cũng phát hiện rằng 28% số tổ chức được khảo sát đang chuyển ngân sách tiếp thị sang các kênh kỹ thuật số từ các lĩnh vực truyền thống.
Giám đốc nghiên cứu của Econsultancy là Linus Gregoriadis cho rằng hầu hết các công ty sẽ tăng đầu tư cho truyền thông xã hội (social media) mặc dù tiếp thị công cụ tìm kiếm và email vẫn sẽ chiếm tỷ trọng đáng kể.

Ngân sách cho các kênh truyền thông ngoại tuyến (offline) - như thư trực tiếp, tiếp thị qua điện thoại, báo in, truyền hình và radio - có khả năng giảm. Chỉ 17% phản hồi nói họ sẽ tăng ngân sách cho truyền thông in ấn và 41% nói họ sẽ giảm đầu tư.
Những thống kê từ nghiên cứu nói trên còn bao gồm 70% các công ty nói họ có kế hoạch tăng chi tiêu cho bên thứ ba (hoặc các dịch vụ truyền thông xã hội 'off-site') như Facebook và Twitter. Chưa đến 2/3 (64%) nói họ sẽ chi thêm tiền cho truyền thông xã hội trên website của họ hoặc intranet như blog và đánh giá sản phẩm.

Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm (SEO) là một lĩnh vực khác sẽ hướng lợi từ chi tiêu nhiều hơn cho tiếp thị với 64% công ty dự định tăng ngân sách cho SEO. Hơn một nửa phản hồi (56%) nói họ sẽ làm tương tự như vậy với tiếp thị di động.

Tìm kiếm trả tiền nổi lên như là cách tiếp cận tốt nhất cho việc đánh giá tỷ suất lợi nhuận đầu tư, hay tỷ lệ hoàn vốn (ROI) với 54% nói họ giỏi về đánh giá ROI cho hoạt động tìm kiếm trả tiền theo click (pay-per-click). Tiếp thị di động khó đánh giá hơn, với 43% phản hồi họ kém trong việc đánh giá ROI.

Theo quản trị trực tuyến

:tdquangcao1:

Các doanh nghiệp PR cần biết cách tạo câu chuyện

Làm cách nào để những thông tin PR mà doanh nghiệp cung cấp đến được các tòa soạn báo, được các phóng viên chắp bút khách quan, độc giả tiếp nhận thông tin hữu ích là một bài toán không dễ giải đối với nhiều doanh nghiệp làm PR hiện nay.


Các doanh nghiệp PR cần biết cách tạo câu chuyện

PR không phải là báo chí

Trong buổi tọa đàm mới đây nhất về PR và báo chí, các nhà báo, các doanh nghiệp làm PR đã cùng nhau ngồi lại để trao đổi về tam giác: PR - Doanh nghiệp - Báo chí. Nhiều nhà báo than phiền rằng, thời gian gần đây họ nhận được rất nhiều thông tin PR của các doanh nghiệp nhưng không thể sử dụng nó bởi thông tin một chiều, chưa thực sự khách quan. Ông Vũ Mạnh Cường - Phó TBT Báo Lao Động cho rằng, hiện nay báo chí đang bị PR "lấn sân" và các tờ báo đang phải ra sức"cảnh giác" với các thông tin PR để tránh gây hiểu lầm cho độc giả. Và thuật ngữ "mùi PR" đã xuất hiện trong nhiều tờ báo. Ứng phó với sự nở rộ của thông tin PR, bà Nguyễn Thu Hương - Phó TBT của Vnexpress cho biết, trang báo điện tử của mình đã có sự phân trang rõ ràng và những trang cấp 2, cấp 3 là mảnh đất để cho các doanh nghiệp PR khai thác.

Để đính chính lại luồng dư luận khi cho rằng báo chí đang là công cụ "viết thuê" hữu hiệu của doanh nghiệp, thay mặt báo giới tham gia tại hội thảo, ông Cường cho biết: "Chúng tôi phải quán triệt từ trên xuống rất rõ ràng rằng, chỉ những thông tin có ích cho độc giả, thời sự, có vấn đề, mới sử dụng. Còn những doanh nghiệp nào muốn đăng tin, bài PR thì đã có những trang riêng dành cho họ và tất nhiên là doanh nghiệp đó phải trả tiền. Do đó mà doanh nghiệp nào muốn đăng tin PR theo kiểu "miễn phí" thì tốt nhất nên tìm ra những thông tin thực sự hợp với báo chí và độc giả của tờ báo đó".

Đại diện nhiều doanh nghiệp làm PR lên tiếng rằng, hiện nay rất nhiều người cho rằng PR chính là các hoạt động báo chí. Nhưng trên thực tế báo chí chỉ là một phần trong các hoạt động PR (bao gồm PR nội bộ, đối tác, chính quyền, các nhà đầu tư cộng đồng...). Ông Nguyễn Thanh Sơn - TGĐ T&A Communications - cho rằng, trong mối quan hệ với báo chí, người làm PR chuyên nghiệp là người cung cấp thông tin, ý tưởng cho phóng viên và tạo điều kiện để phóng viên thực hiện đề tài của mình một cách tốt nhất. Người làm PR hiểu được công việc của người tổ chức bài vở, đồng thời lại hiểu được doanh nghiệp của mình (hoặc khách hàng) cần truyền tải thông tin gì nên có thể hỗ trợ phóng viên đưa tin, viết bài.

Phải chuyên nghiệp

Doanh nghiệp có thông tin, nhưng làm cách nào để thông tin ấy đến được với các toàn soạn báo, được phóng viên chắp bút khách quan và độc giả tiếp nhận được những thông tin hữu ích lại phụ thuộc rất nhiều vào cách mà doanh nghiệp làm PR thực hiện. Các chuyên gia về PR nhận định, một thực tế dễ nhận thấy ở nước ta hiện nay, có nhiều công ty PR hoạt động manh mún, thiếu chuyên nghiệp, quan tâm tới số lượng tin bài đăng trên các báo mà ít khi quan tâm tới chất lượng thông tin. Các hoạt động PR mới chỉ ở giai đoạn "manh nha", phục vụ cho từng đợt tiếp thị nhỏ lẻ mà chưa chú ý tới việc tạo dựng hình ảnh lâu dài cho công ty.

Ông Lê Quốc Vinh - Chủ tịch HĐQT Công ty Le Bros, một trong những công ty tổ chức sự kiện và PR chuyên nghiệp lớn nhất Việt Nam, cho rằng, điều quan trọng nhất là cần biết cách tạo ra câu chuyện và kể nó thật hay, thật hấp dẫn. Đó là con đường thu hút phóng viên và độc giả nhanh và ấn tượng nhất. Nhưng không phải câu chuyện nào cũng thích hợp với tất cả các loại báo mà người kể chuyện cần tạo ra nhiều câu chuyện khác nhau, khéo léo, dẫn dắt hợp lý phù hợp với đối tượng độc giả của từng tờ báo khác nhau. Ông Vinh đưa ra ví dụ về một doanh nghiệp nọ sản xuất ra loại xe máy mới. Đối với những tờ báo chuyên về ô tô - xe máy thì câu chuyện về các yếu tố kỹ thuật của xe sẽ là chủ đề được họ quan tâm. Nhưng đối với những tờ báo không có đặc thù chuyên ngành xe máy thì cần những câu chuyện như các nghệ sĩ chơi xe như thế nào, tính nghệ thuật của nó ra sao... qua đó để nói về sản phẩm thì hiệu quả hơn hẳn.

Về phía báo chí, họ cũng yêu cầu các doanh nghiệp khi làm PR phải đặt tính chuyên nghiệp lên cao. Ông Vũ Mạnh Cường đưa ra câu chuyện về một thông tin của hãng nước giải khát nọ trên báo Lao Động. Khi thông tin có vấn đề, phóng viên của ông cần kiểm định lại và đã gọi điện tới công ty nhưng đã không nhận được sự phúc đáp rõ ràng từ phía người đại diện công ty. Do đó, phóng viên đã phải kiểm định lại từ các nguồn thông tin không chính thống khác."Tôi nghĩ những người làm PR nên trả lời điện thoại hoặc email bất cứ khi nào có thể vì báo chí chúng tôi không thể đợi các bạn đến tận sáng hôm sau mới kiểm tra thông tin. Các doanh nghiệp yêu cầu tính chuyên nghiệp của báo chí thì các bạn cũng nên chú ý tới tính chuyên nghiệp của mình", ông Cường góp ý.

Theo doanhnhan360.com

Mục tiêu chiến lược của các giám đốc tiếp thị

Một nghiên cứu mới đây về hoạt động hiệu quả của hoạt động Marketing được thực hiện bởi Suzanne Lowe, sáng lập viên của Expertise Marketing LLC (Mỹ), tác giả cuốn sách "Marketplace Masters: How Professional Service Firms Compete To Win" (Bí quyết cạnh tranh của các dịch vụ chuyên nghiệp), cho thấy đa số các giám đốc tiếp thị (Chief Marketing Officer - CMO) đánh giá chưa đúng tầm quan trọng của các mục tiêu tiếp thị mang tính chiến lược.

Mục tiêu chiến lược của các giám đốc tiếp thị

Họ thường không tập trung vào các mục tiêu tiếp thị có thể giúp họ tăng hiệu quả làm việc của cá nhân hay giúp doanh nghiệp đi đầu trong các cuộc cạnh tranh...

Từ nghiên cứu nói trên, Suzanne Lowe rút ra kết luận rằng, để tăng hiệu quả của hoạt động tiếp thị và đưa doanh nghiệp vượt lên trên thương trường, các CMO phải bám sát 5 mục tiêu chiến lược dưới đây (được sắp xếp theo thứ tự quan trọng) và đánh giá việc thực hiện các mục tiêu này ít nhất mỗi năm một lần.

1. Xác định những khách hàng hiện tại và tương lai có tầm quan trọng chiến lược nhất.

Rất nhiều CMO chỉ biết ai là những khách hàng có tầm quan trọng chiến lược nhất trong quá khứ mà không biết được ai là khách hàng có tầm quan trọng chiến lược trong hiện tại và tương lai. Xác định khách hàng có tiềm năng phát triển nhất phải là một mục tiêu cơ bản đầu tiên của các CMO, bởi vì những mục tiêu khác sẽ được xây dựng dựa trên mục tiêu này. Nghiên cứu của Lowe cho thấy chỉ có 19% số CMO tham gia khảo sát mục tiêu này là quan trọng nhất. Theo giải thích của Lowe, có lẽ vì những CMO này nghĩ rằng họ đã biết những khách hàng hiện tại và tương lai quan trọng nhất đối với sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp là ai.

2. Lôi kéo những khách hàng hiện tại và tương lai có tầm quan trọng và chiến lược nhất.

Các CMO tham gia khảo sát đã đánh giá mục tiêu này có tầm quan trọng đứng hàng thứ hai trong số năm mục tiêu được đưa ra. Mục tiêu này cũng là nhiệm vụ chính mang tính truyền thống của các CMO và bao gồm nhiều công việc rất quan trọng như tạo ra sự khác biệt, định vị và xây dựng nhãn hiệu, tổ chức các sự kiện tạo thêm giá trị gia tăng cho khách hàng, quảng cáo tiếp thị bằng thư trực tiếp...

3. Giữ lại những khách hàng hiện tại và tương lai có tầm quan trọng chiến lược nhất.

Các CMO tham gia khảo sát xem mục tiêu này là quan trọng nhất. Đa số các CMO thực hiện mục tiêu này bằng cách tập trung vào các hoạt động giúp tăng cường sự tương tác, giao tiếp giữa doanh nghiệp với khách hàng. Các CMO thường phối hợp với các giám đốc phát triển kinh doanh để duy trì quan hệ với những khách hàng quan trọng nhất.

4. Tăng doanh thu cho doanh nghiệp từ những khách hàng hiện tại có tầm quan trọng chiến lược nhất.

Điều đáng ngạc nhiên là hầu hết các CMO tham gia khảo sát đều đánh giá thấp tầm quan trọng của mục tiêu này. Điều này cho thấy các CMO thường ít phối hợp với các đồng nghiệp của các phòng ban khác trong doanh nghiệp để thực hiện một trong những nguyên tắc cơ bản trong cạnh tranh là tăng doanh thu từ những khách hàng tốt nhất. Để thực hiện nguyên tắc này, Các CMO phải phối hợp với các đồng nghiệp khác để thắt chặt quan hệ với các khách hàng trung thành, khiến họ sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp nhiều nhất thay vì chia sẻ việc này với các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp.

5. Tăng giá trị của doanh nghiệp dưới cái nhìn của tất cả mọi người (bao gồm các nhà đầu tư, các khách hàng, các đối tác, nhân viên...).

Có một sự khác biệt khá lớn trong nhận thức của các CMO tham gia khảo sát về tầm quan trọng của mục tiêu này. Khoảng 40% cho rằng đây là nhiệm vụ kém quan trọng nhất, trong khi hơn 22% nghĩ rằng đây là mục tiêu quan trọng hàng đầu. Điều này phản ánh một thực tế rằng các doanh nghiệp thường quan niệm rằng nhiệm vụ chính của tiếp thị là thực hiện các hoạt động thuộc về giao tế, "đánh bóng hình ảnh" chứ không phải hướng đến các kết quả hữu hình, gắn liền với khách hàng và có thể đánh giá được. Nhưng nếu doanh nghiệp vẫn chưa xác định được những khách hàng chiến lược quan trọng nhất (và chưa thực hiện các mục tiêu lôi kéo khách hàng từ các đối thủ cạnh tranh, giữ lại khách hàng và tăng doanh thu) thì những nổ lực để đánh bóng hình ảnh của doanh nghiệp hay nhãn hiệu có thể sẽ mất tác dụng do hướng đến những đối tượng khách hàng không đúng

Theo Ehow

:tdquangcao2:

Friday, February 11, 2011

Quảng cáo Facebook

1. Giới thiệu dịch vụ

Quảng cáo tài trợ trên Facebook là hình thức quảng cáo khi mà người sử dụng đăng nhập vào Facebook sẽ xuất hiện các thông điệp quảng cáo cột bên phải.Quảng cáo trên Facebook tính tiền theo số lượt click hoặc lượt xem. Mức đấu giá càng cao thì quảng cáo càng có cơ hội xuất hiện ưu tiên hơn.

Quảng cáo Facebook - Quảng cáo Facebook

Với sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội ảo Facebook, đến nay có hơn 500 triệu người sử dụng Facebook trên thế giới và hơn 2 triệu người sử dụng Facebook tại Việt Nam, quảng cáo trên Facebook quảng cáo trên Facebook là lựa chọn hàng đầu cho bạn.

Lợi thế của phương án quảng cáo Facebook:

Luôn hướng đến đúng đối tượng là khách hàng tiềm năng
Bạn hoàn toàn có thể điều chỉnh hướng đối tượng cho các chiến dịch quảng cáo của mình. Trong đó bao gồm việc định hướng các đối tượng nào sẽ thấy được quảng cáo như: giới tính, độ tuổi, quốc gia, ngôn ngữ, trình độ học vấn...
Chỉ trả tiền khi có người mong muốn sử dụng dịch vụ của bạn
Cũng như những nhà cung cấp quảng cáo tiên tiến khác, Facebook cho bạn lựa chọn hình thức quảng cáo CPC (cost per click) hoặc CPM (cost per impression). Với CPC, bạn chỉ phải trả tiền cho những người click vào quảng cáo của bạn mà thôi. Với CPM bạn cũng chỉ trả theo số lần hiển thị mẫu quảng cáo với mức chi phí khá hợp lý.

Tính linh hoạt cao

Dễ dàng trong việc thay đổi chiến dịch. Bạn hoàn toàn có thể chuyển đổi giữa 2 hình thức tra phí từ CPC sang CPM và ngược lại. Hơn nữa, các thông số cũng được điều chỉnh dễ dàng để chiến dịch của bạn tối ưu hóa hơn. Quảng cáo trên Facebook, bạn không nhất thiết phải có website. Bạn có nhiều hình thức khác để quảng bá.
Quảng cáo trên Facebook của bạn xuất hiện vừa có hình ảnh vừa có nội dung giới thiệu kèm theo. Đây là một hình thức quảng cáo tiên tiến và được nhiều công ty áp dụng để đưa hình ảnh doanh nghiệp đến với nhiều người.

Không phụ thuộc ngân sách

Bạn không nhất thiết phải trả một ngân sách cố định. Tùy vào tình hình thực tế, bạn có thể yêu cầu điều chỉnh ngân sách hàng ngày hoặc hàng tháng cho phù hợp với chiến dịch của mình.
Phân phối quảng cáo hợp lý
Facebook luôn đảm bảo rằng quảng cáo được phân bổ đều đặn dựa trên ngân sách của bạn. Sẽ không có trường hợp quảng cáo tập trung quá nhiều vào người này và không xuất hiện ở người khác. Do đó, Quảng cáo của bạn sẽ luôn xuất hiện đến các khách hàng tiềm năng.

Hãy bắt đầu chương trình với GOMM để được:

Tư vấn lựa chọn các thông điệp quảng cáo tối ưu để thu hút người dùng.
Tư vấn hỗ trợ tối ưu chất lượng website theo tiêu chí của Facebook để qua đó hưởng chính sách giảm giá của Facebook.
Đấu giá và quản lý ngân sách theo từng chiến dịch.

2. Báo giá dịch vụ tính theo truy cập CPC

Ngân sách quảng cáo trên Facebook bao nhiêu là do khách hàng lựa chọn. Chi phi/click click bao nhiêu cũng do khách hàng lựa chọn, chúng tôi sẽ tư vấn thêm về giá. Quảng cáo của bạn chỉ tính phí khi có click trên mẫu quảng cáo đó.
Phí thiết lập, quản lý và tối ưu quảng cáo: 5% tổng ngân sách quảng cáo

3. Quy trình thực hiện

Quảng cáo Facebook - Quảng cáo Facebook

 

Nguồn: Quảng cáo Facebook

 

Sunday, January 9, 2011

Tiếp thị hiệu quả với ngân sách khiêm tốn

Bạn có một ngân sách tiếp thị khiêm tốn ư? Điều đó hoàn toàn bình thường. Vẫn có rất nhiều cách bạn có thể làm để tiếp cận với các khán giả B2B, chỉ cần bạn hãy gắng sức một chút xíu.

Tiếp thị hiệu quả với ngân sách khiêm tốn

Một cách để làm hao tổn ngân sách là né tránh mục tiêu chính của bạn. Đừng cố gắng chia tất cả mọi dịch vụ, sản phẩm như những miếng bánh bằng nhau chằn chặn. Điều đó chỉ làm phai mờ đi những nỗ lực tiếp thị của bạn mà thôi. Hơn nữa, bạn cần phải hiểu rõ khách hàng của mình; hãy tiếp thị đúng người, đúng chỗ. Có thể thông điệp của bạn không phát triển theo chiều rộng nhưng nó chắc chắn sẽ phát triển theo chiều sâu.

Xét về phương diện kinh tế, định hướng tiếp thị trực tiếp có thể là một trong những phương thức rẻ nhất, hiệu quả nhất để tiếp cận tới các khách hàng tiềm năng. Với một ngân quỹ khiêm tốn, triển lãm thương mại hay quảng cáo là điều quá xa xỉ. Tuy nhiên bằng việc sử dụng các hình thức gửi thư, các công ty vẫn có thể có được sự ủng hộ của khách hàng hay khách hàng tương lai.

Sau đây là một số điều sẽ giúp bạn mở rộng, gìn giữ các mối quan hệ mà không hề làm ngân quỹ của bạn sụt giảm.

Thư điện tử - Email

Tin tốt là email hoàn toàn miễn phí. Còn tin xấu là rất nhiều công ty đã dùng và lạm dụng hình thức liên lạc này. Khó khăn của bạn là làm thế nào để vượt qua tình trạng rối ren này mà không spam khách hàng của mình.

Tôi vừa sử dụng thành công phương thức tiếp cận có tính giáo dục. Hãy đưa những thông tin mà bạn tin rằng khách hàng muốn và cần. Ví dụ, bạn có thể gửi tới cho khách hàng của mình một lá thư mời chứa nhiều thông tin hấp dẫn ở Website. Tôi đã sử dụng những tư liệu như các bài báo, các bài nghiên cứu về công nghiệp thú vị, những đường link tới các báo cáo được phát hành. "Lời mời của công ty" là một phần trong lá thư mời, cuối thư là logo và đường link của công ty.

Thư mời cũng có thể được khách hàng đặt hàng tháng. Để làm được điều này bạn cần phải tìm hiểu rõ những thông tin như thế nào thì quan trọng với khách hàng này và vì vậy bạn có thể đáp ứng nhu cầu. Đó là cách bạn tránh được luật spam.

Đừng nên gửi thư mời quá thường xuyên. Nếu khách hàng của bạn cảm thấy khó chịu bởi cách thức tiếp thị của bạn, họ sẽ lập tức loại bỏ địa chỉ mail của bạn ra khỏi danh sách địa chỉ mail của họ. Đó là một tổn thất mà bạn không thể chi trả được. Hãy cố gắng giữ liên lạc qua email một tháng hai hoặc ba lần bằng những hình thức khác nhau. Tôi nghĩ một tuần một lần là đủ để địa chỉ mail của bạn vẫn còn được giữ trong danh sách địa chỉ liên lạc của khách hàng.

Thư trực tiếp

Thư tay đã trở nên lỗi thời kể từ khi email được đưa vào sử dụng như một công cụ tiếp thị. Thư tay đắt hơn rất nhiều và có thể thiết kế rất tốn kém. Mặc dù điều đó là sự thật nhưng không phải tất cả các khách hàng của bạn đều xem hoặc trả lời email và khi bạn đã nhằm vào "mục tiêu" chính thì thư tay thật sự là không quá đắt.

Điểm chính của chiến dịch này là bạn cần phải biết gửi thông tin nào cho ai. Không nên gửi tất cả các cataloge sản phẩm tới mọi khách hàng. 90% là họ sẽ coi nó như rác. Hãy ghi nhớ ai yêu cầu phát thêm cái gì (nhưng không phải là sau khi bạn mời họ) hoặc những gì được phát thêm trong triển lãm thương mại.

Thư cá nhân càng nhắm trúng "tim đen" của khách hàng thì càng nhanh thu được hiệu quả và sẽ có được phúc đáp của khách hàng. Với thư thì thư càng mang tính chất cá nhân càng có được hiệu quả cao. Bạn có biết thông tin cụ thể nào về công ty khách hàng sẽ quan tâm tới sản phẩm và dịch vụ của bạn không? Một nghiên cứu nhỏ về vấn đề này, từ những lá thư mời đến những cuộc đàm phán thực sự là cả một quãng đường dài.

Hãy phát hành thư mời của công ty mỗi năm vài lần. Việc này có thể tránh khỏi cách làm mang tính tiếp thị như thư mời điện tử. Tôi đã từng phát hành một bức thư mời gồm có bài báo tiêu điểm của khách hàng, bài báo sản phẩm mới nhất, tin tức về các sự kiện mà chúng tôi tham dự và các tin tức liên quan của công ty. Trong trường hợp này thì thư mời là thông tin về chúng tôi nhưng vẫn có ích cho những người chủ hoặc những người đang cân nhắc việc mua hàng hoá của chúng tôi. Hãy bỏ qua những bài báo về tiệc Giáng sinh của công ty hay Công nhân của tháng - những bài báo không cung cấp thông tin nhằm giúp khách hàng chọn lựa sản phẩm của chúng ta. Thư mời cần phải đạt được mục đích là giữ hình ảnh của công ty trong trí nhớ của khách hàng tương lai. Rất tuyệt nếu công ty của bạn được giới thiệu cho một khách hàng nào đó và bằng một cách nhanh nhất bạn có thể biết rõ khách hàng của bạn là ai và khách hàng có thể biết công ty của bạn là công ty như thế nào. Nếu điều này có thể thực hiện được thì nó có thể thay thế cho những cuốn cataloge tốn kém. Vì thư tay thường tốn kém hơn email nên bạn cũng không nên gửi thường xuyên. Hai hoặc bốn lần một năm là đủ. Gửi qua đường bưu điện sẽ tuỳ thuộc vào quy mô hoạt động của bạn.

Một số lời khuyên khi sử dụng thư trực tiếp

Xếp loại các khách hàng của bạn theo vùng địa lý, theo chức danh, theo cơ quan hoặc các tiêu chí khác giúp bạn tìm hiểu khách hàng nào cần phải gửi những thông tin nào. Nếu bạn là nhà cung cấp dịch vụ công nghệ thông tin, bạn sẽ cần phải liên hệ với CIO, chứ không phải CFO hay phó giám đốc kinh doanh. Đừng nên lãng phí tiền vào những quá trình thừa.

Hãy luôn ghi nhớ rằng, để chiến dịch email hay thư trực tiếp của bạn tiến xa hơn nữa, bạn sẽ cần tới cái nhìn nhất quán và linh cảm nhạy bén. Bạn sẽ muốn khách hàng có cảm giác quen quen khi nhìn chất liệu sản phẩm của bạn. Nếu không làm được điều này thì bạn đang đánh mất giá trị thương hiệu nhạy cảm. Một lợi thế nữa là bạn không phải chạy theo toàn bộ những sáng chế mới khi bạn phát triển email hay thư của mình. Nói một cách khác, điều đó tốt cho ngân sách eo hẹp của bạn.

In và gửi thư bằng cỡ bình thường, hình dáng lạ mắt như phong bì hình vuông hay những vật kích thước lớn, có giá trị hơn để gửi.

Không nên gửi quà phụ thêm cho tất cả những đầu mối liên lạc mới mà bạn có. Điều đó có thể rất tốn kém và lãng phí. Hãy chăm sóc những khách hàng như vậy thông qua email với những thông tin mời cụ thể và chi tiết. Sau đó, hãy đợi họ đặt câu hỏi về tài liệu.


Theo Lantabrand

Tiền và ý tưởng thì cái nào quan trọng hơn

Tác giả Anthony Tjan là CEO, Cộng sự quản lý và là nhà sáng lập công ty đầu tư mạo hiểm Cue Ball. Vừa là doanh nhân, nhà đầu tư, và cố vấn cấp cao, Tjan đã xây dựng được cho mình hình ảnh một nhà thành lập doanh nghiệp có uy tín.

Tiền và ý tưởng thì cái nào quan trọng hơn

Tuần trước, Magic Johnson, ngôi sao huyền thoại một thời của giải NBA đã chuyển nghệ thành doanh nhân, tiến hành bán lại các cửa hàng nhượng quyền Starbucks của mình cho công ty mẹ với giá công bố là 75 triệu USD.

Có tin đồn rằng anh đang huy động tiền mặt để đầu tư vào một đội thể thao nhà nghề (anh cũng đã bán cổ phần của mình tại đội bóng chày Los Angeles Lakers).

Cách đây khoảng 12 năm, Magic Johnson hợp tác với Starbucks để mở các cửa hàng cà phê (chương trình liên doanh nhượng quyền này có tên gọi Urban Coffee Opportunities) tại các khu vực thành thị đang phát triển như Harlem với mục đích tạo thêm công ăn việc làm cho địa phương.

Họ đã gặt hái được nhiều thành công lớn. Với chương trình này, hơn 100 cửa hàng Starbucks đã ra đời tại các khu vực thành thị kém phát triển trên khắp nước Mỹ, trong đó có các bang Atlanta, Chicago, Detroit ,Los Angeles, New York và Washington, D.C.

Việc Starbucks mua lại 50% cổ phần của Magic trong công ty liên doanh là một bước chuyển giao quyền lực quan trọng đằng sau những công ty nhỏ với mô hình tài chính thực tế.

Đây cũng là một bài học mới lạ dành cho các lãnh đạo, giúp họ thấy rằng hoạt động kinh doanh tốt và đối tác tốt có thể thành công ở những khu vực kém phát triển.

Làm những việc mà người khác đang không làm - hoặc sẽ không làm - vẫn luôn là nguồn cảm hứng cho tôi và các đồng nghiệp trong công việc hàng ngày của chúng tôi.

Công ty chúng tôi coi nhượng quyền là các cơ hội kinh doanh. Chúng tôi lựa chọn khá kỹ càng, nhưng chúng tôi thích sự đơn giản trong các mô hình kinh doanh của họ.

Sức hấp dẫn của các cơ hội nhượng quyền kinh doanh bán lẻ và nhà hàng đều quy về những vấn đề liên quan tới kinh tế: cần bao nhiêu tiền để mở một đơn vị kinh doanh, và mất bao lâu để thu hồi vốn?

Nếu ý tưởng kinh doanh đó có hiệu quả, thì dòng tiền hiện tại sẽ rất mạnh. Giả sử bạn thành lập một công ty nhượng quyền Starbucks trị giá X đô la. Thời gian thu hồi vốn là Y năm. Bạn tính toán dòng tiền hiện tại trừ đi chi phí bỏ ra để duy trì và phát triển kinh doanh.

Như vậy, bạn có thể nhanh chóng ước tính được số tiền bạn có thể thu về là bao nhiêu, từ đó đánh giá được tiềm năng kinh tế của ý tưởng kinh doanh này.

Đối với giới quản trị doanh nghiệp, doanh nhân công nghệ, và các nhà đầu tư tư nhân, các nhà hàng và cửa hàng bán lẻ nhượng quyền cùng các công ty dịch vụ tiêu dùng mới thành lập khác chỉ tạo ra một phản xạ tiêu cực, vô điều kiện.

Họ thường gạt phăng chuyện đầu tư vào các loại hình kinh doanh này với lời khẳng định chắc như đinh đóng cột rằng phần đông các nhà hàng ăn uống đều thất bại, và rằng những ý tưởng kinh doanh như vậy đòi hỏi một sự đầu tư lớn cả về tiền bạc và thời gian.

Thêm nữa, chúng không phải là những Ý Tưởng Lớn. Chúng không có chút gì thú vị cả.

Đúng là phần lớn các cửa hàng kinh doanh ăn uống đều thất bại. Đúng là phần lớn các công ty công nghệ mới thành lập cũng đều thất bại. Và cũng đúng là cần phải đầu tư tiền bạc và thời gian để vận hành các công ty đó.

Dĩ nhiên, các công ty công nghệ sinh học thường phải bỏ ra cả chục năm ròng rã cùng hàng tỷ đô la chỉ để đưa một ý tưởng ra thị trường.

Tuy nhiên, các nhà đầu tư công nghệ sẽ nói rằng, trong thế giới đầu tư mạo hiểm chú trọng tới "hiệu quả đồng vốn" mà chúng ta đang sống hiện nay, bạn có thể kiểm định tính khả thi của các công ty truyền thông kỹ thuật số và kết nối xã hội với mức chi phí bỏ ra không đáng kể trước khi quyết tâm theo đuổi chúng với những khoản đầu tư lớn hơn.

Nhưng liệu họ có biết rằng từ lâu các ý tưởng kinh doanh nhà hàng và bán lẻ đã áp dụng phương pháp đầu tư phân đoạn như vậy rồi?

Để kiểm chứng xem ý tưởng xây dựng một chuỗi nhà hàng ăn uống có hiệu quả hay không, bạn sẽ bắt đầu bằng việc thành lập một nhà hàng trước tiên, và nếu nhà hàng này hoạt động thành công, bạn mới tiến hành nhân rộng mạng lưới này.

Tới lúc đó, các rủi ro trong kinh doanh đã được giảm đi đáng kể, và số vốn bỏ ra tiếp theo sẽ chịu rủi ro thấp hơn so với tiềm năng lợi nhuận nó mang lại.

Thật ra, sau khi một số cửa hàng Starbucks tại các khu vực kém phát triển có dấu hiệu thành công, cơ hội nhân rộng ý tưởng này lại càng cao.

Hãy so sánh ý tưởng này với một công ty truyền thông xã hội mới thành lập trong đó yếu tố rủi ro liên tục xuất hiện và kéo dài, bởi công nghệ là một lĩnh vực có tuổi đời ngắn và hay thay đổi nhiều hơn so với lĩnh vực kinh doanh cà phê.

Vậy thì tại sao công nghệ và dược phẩm cùng các ý tưởng đầu tư mạo hiểm khác có thể "cặp kè" được với nhau, còn ý tưởng kinh doanh cửa hàng cà phê lại không thể?

Có thể bạn sẽ dễ dàng bị cuốn đi trong nỗi hứng khởi khi thành lập hoặc đầu tư vào những công ty mới, mang tính sáng tạo cao, và mải mê theo đuổi những ý tưởng lớn với các thị trường lớn mà quên đi rằng ngoài yếu tố con người, thì tiêu chí kinh doanh quan trọng nhất là một mô hình tài chính hiệu quả.

Khả năng sinh lãi điều chỉnh theo rủi ro mới chính là trọng tâm thực sự trong bất kỳ hoạt động đầu tư nào, chứ không phải là những gì mà nhà đầu tư cho rằng thú vị và hay ho.

Xét từ quan điểm đầu tư, con người và mô hình kinh doanh phải được đặt lên trên ý tưởng và thị trường. Những "gã lùn bé nhỏ" với ý tưởng giản đơn nhưng lại có mô hình tài chính hiệu quả vẫn có cơ hội thành công ngang ngửa những anh chàng "nuôi chí lớn" với những ý tưởng vĩ đại nhưng không có mô hình tài chính nào trong tay.

Magic Johnson biết rõ điều này. Trong 10 mùa giải gắn bó với đội Lakers, thu nhập ước tính của anh (chưa bao gồm các khoản ký hậu hối phiếu) là khoảng 18 triệu USD.

Cũng trong từng ấy năm sau khi kết thúc sự nghiệp của mình tại NBA, hoạt động kinh doanh Starbucks của Johnson đã đem về cho anh một nguồn thu nhập lớn gấp 3 lần con số trên.

Quả là một kết quả không tồi cho một loại hình đầu tư mà nhiều nhà đầu tư mạo hiểm sẵn sàng gạt phăng đi, phải không nào?

Theo Thủy Nguyệt - VietNamNet